15:26 EDT Thứ tư, 23/08/2017

Chương Trình Giáo Dục Đào Tạo


1.   Lớp nghiên cứu cổ văn
      Hy-bá-lai

2.   Lớp nghiên cứu cổ văn Hy-lạp
3.   Lớp Thần Học Ứng Dụng
      » Xem chi tiết

............................................................................................
 

Lớp Học Kinh Thánh Hàng Tuần


1. Những bài học Kinh Thánh hằng tuần cho mọi lứa tuổi
2. Các Bản Thánh Ca - Tôn Vinh

» Xem chi tiết


............................................................................................
 

Giải Đáp Thắc Mắc Hôm Nay

                               » Xem chi tiết

............................................................................................

Trang Chủ » Thần Học » Thánh kinh Thông lãm

Ru-Tơ

Thứ hai - 04/03/2013 03:58
Ru-Tơ

Ru-Tơ

I/. TÊN SÁCH: Chữ RU-TƠ: Có nghĩa là Bạn hữu, sự Đứng đắn, Sự Dịu Dàng (Comeliness). Đây không phải là tên Tác giả của sách, nhưng là tên Nhân vật chính trong sách.

-----------------------------

I/. TÊN SÁCH:

  1. Chữ RU-TƠ:
Có nghĩa là Bạn hữu, sự Đứng đắn, Sự Dịu Dàng (Comeliness).
Đây không phải là tên Tác giả của sách, nhưng là tên Nhân vật chính trong sách.

  1. Bà Ru-tơ:
Ru-tơ là tên một người đàn bà thuộc dân Mô-áp.
Sáng. 19:37-, Mô-áp là một dân tộc dòng dõi của Lót, dân tộc nầy bị Chúa phạt dù mười đời cũng không được vào hội của Chúa (Phục Truyền 23:34).
Ru-tơ là một phụ nữ góa chồng (chồng là một người Y-sơ-ra-ên di cư qua Mô-áp, người chồng nầy chết sớm).
Ru-tơ là một nàng dâu có lòng yêu thương mẹ chồng là Na-ô-mi.
Ru-tơ được tái giá với Bô-ô và trở nên tổ mẫu của vua Đa-vít và tổ mẫu của Chúa Jêsus Christ.
II/. NIÊN HIỆU SÁCH RU-TƠ:
1:1 cho biết câu chuyện trong sách Ru-tơ xảy ra trong đời Các Quan Xét, nghĩa là xảy ra trước thời Đa-vít từ 60 năm đến 100 năm (1100 TC.)
4:22 tỏ ra sách Ru-tơ được viết ít nhất là lúc đương thời Đa-vít, do đó có ý kiến cho rằng sách được Samuên viết.
III/. SỰ QUAN TRỌNG CỦA SÁCH RU-TƠ:

  1. So sánh với sách Các Quan Xét:
Sách CÁC QUAN XÉT: là sách của chiến tranh, sợ hãi, thất bại, buồn rầu.
Sách RUTƠ: là sách của sự bình an (qua thái độ của Ru-tơ), tin cậy, được sản nghiệp, vui mừng phục vụ.
Giữa thời kỳ Các Quan Xét đầy tội lỗi, gian ác, nổi bật lên một người phụ nữ như Ru-tơ khác nào như Hoa Huệ giữa Gai Gốc (Nhã ca 2:2)

  1. So sánh với sách Ê-xơ-tê:
Có 2 sách trong Kinh Thánh mang tên của Phụ nữ là sách Ru-tơ và sách Ê-xơ-tê. Đời sống hai người phụ nữ nầy vừa tương phản vừa tương đồng:
 

RU-TƠ Ê-XƠ-TÊ
Người nữ ngoại bang được đem về sống giữa người Y-sơ-ra-ên Người nữ Y-sơ-ra-ên được đem về sống giữa người ngoại bang
Có người chồng Y-sơ-ra-ên thuộc Hoàng tộc (tổ phụ vua Đa-vít. Có chồng người ngoại bang thuộc Hoàng tộc một Đế quốc thù nghịch
Một phụ nữ trẻ yêu thương bà mẹ chồng, hy sinh cho gia đình chồng.
 
Một phụ nữ trẻ yêu thương một dân tộc, hy sinh cho dân tộc mình
CẢ HAI NGƯỜI PHỤ NỮ NẦY ĐỀU LÀ NHỮNG NHÂN VẬT VĨ ĐẠI VÀ ĐẠO ĐỨC
 
  1. So sánh với Gia phổ của Chúa Jêsus Christ: Mathiơ 1:1-17
Trong gia phổ của Chúa Jêsus Christ có tên 4 người phụ nữ được nhắc đến là:
  1. Mathiơ 1:3, bà Tha-ma – Sáng. 38:
  2. Math. 1:5, Bà Ra-háp – Giô-suê 2:; 6:
  3. Math. 1:5, Bà Ru-tơ – Ru-tơ 1:-4:
  4. Math. 1:6b, vợ của U-ri – II Samuên 11: - 12:
Bốn người phụ nữ nầy đều là những phụ nữ có đời sống không tốt:
. Tha-ma là nàng dâu đã lừa cha chồng để đạt được việc có thai với cha chồng bằng cách giả làm kỹ nữ.
. Ra-háp là kỹ nữ của thành Giê-ri-cô
. Ru-tơ là người Mô-áp, tức là thuộc dân tộc không được vào hội của Đức Chúa Trời.
. Bát-sê-ba là người đã làm cho Đa-vít bị mê hoặc đến nỗi Đa-vít giết chồng của bà là U-ri, rồi lại bằng lòng sống với Đa-vít.
Kỳ diệu thay, bởi Ân Điển của Đức Chúa Trời, bốn người nầy – trong đó có Ru-tơ – đã được ghi vào gia phổ của Đấng Cứu Thế, như Kinh Thánh phán:
Gal. 3:27-29; Êph. 2:8-9, 14, 26, trong Chúa Jêsus Christ không còn phân biệt người Y-sơ-ra-ên hay người ngoại bang, người nam hay người nữ, khi phục vụ Chúa.
Ghi chú: trong gia phổ của Chúa Jêsus Christ, từ A-đam đến Chúa Jêsus Christ giáng sanh có độ 60 thế hệ, chia làm 10 đời: Từ A-đam đến Nô-ê; từ Sem đến Áp-ra-ham; từ Y-sác đến Bô-ô.

  1. So sánh với Giáo Lý Cứu Rỗi:
a/. Nàng Ru-tơ làm hình bóng về Hội Thánh đối với Chúa Jêsus Christ (Êph. 3:6). Ru-tơ là người ngoại bang được Bô-ô (hình bóng về Đấng Christ) cưới về (Rôma 11:17)
b/. Đoạn 1: Giới thiệu một số tên (tên người và tên Địa phương) có ý nghĩa liên quan đến Giáo lý Cứu Rỗi (Theo J. Sidlow Baxter):
. Bết-lê-hem: Bết = Nhà; Lê-hem = Bánh (bánh mì = Bread). Bết-lê-hem là Nhà Bánh.
. Ê-li-mê-léch: Ê-li = Đức Chúa Trời của tôi; mê-léch = vua. Ê-li-mê-léch = Đức Chúa Trời của tôi là vua
Người Y-sơ-ra-ên nầy cưới một người vợ tên Na-ô-mi = ngọt ngào, đặc ân. Họ có hai đứa con là Mạc-lôn = vui mừng, bài ca, và Ki-li-ôn = Sự đẹp đẽ
Dân Y-sơ-ra-ên đời Các Quan Xét theo chế độ Thần quyền, nghĩa là Đức Chúa Trời là vua của người Y-sơ-ra-ên. Dân Y-sơ-ra-ên có thể nói: Đức Chúa Trời của tôi là vua của tôi.
Nhưng dưới sự thử nghiệm đức tin qua cơn đói, Y-sơ-ra-ên mất lòng tin, tìm sự nương cậy nơi ngoại bang. Kết quả: Ê-li-mê-léch chết – Y-sơ-ra-ên không còn nói được Đức Chúa Trời là vua của tôi, kết quả kế tiếp là Mạc-lôn (vui mừng) chết, Ki-li-ôn (sự đẹp đẽ) cũng chết, không còn. Na-ô-mi trở thành Ma-ra = cay đắng (1:20)
. Cảm ơn Chúa, với quyết định quay về (ăn năn), Na-ô-mi có Ru-tơ (là bạn hữu, bạn thân, sự an ủi) cùng đi, đã gặp được Bô-ô (trong người có sức lực), do đó tìm lại được sức lực (sản nghiệp) sinh ra tinh thần vui mừng phục vụ (Ô-bết).
c/.  3:12 nói đến “người bà con vô danh” (4:6),
. Người bà con nầy có quyền ưu tiên chuộc lại sản nghiệp của Ê-li-mê-léch (4:4), nhưng khi nghe phải cưới luôn Ru-tơ là người Mô-áp, thì người đó từ chối
Người bà con nầy là LUẬT PHÁP. Luật pháp không cứu được tội nhân như chúng ta (Rôma 3:20), luật pháp chỉ định tội.
. Cảm ơn Chúa, Ru-tơ BỊ đóng lại trước Luật pháp, nhưng ĐƯỢC mở ra bởi Ân điển. Một tội nhân đến với Luật pháp (Núi Sinai) sẽ được nghe: Linh hồn nào phạm tội sẽ chết (Ê-xê-chi-ên 18:4); nhưng khi tội nhân đến với Ân điển (Núi Gô-gô-tha) thì được nghe: Giăng 5:24.
d/. Sách Ru-tơ có 17 lần dùng chữ CHUỘC, bởi đó chúng ta có một Bố cục cho sách Ru-tơ:
. 1: Người được chuộc: (Một người đáng bỏ nhưng được chuộc)
. 2:-3:, Phương pháp được chuộc: Không bởi Luật pháp (Người bà con vô danh), mà bởi ân điển (Bô-ô), vì yêu thương.
. 4: Kết quả việc được chuộc: Được sản nghiệp, được khen thưởng.
IV/. BỐ CỤC:
A/. Tổng quát:
Đề mục: RU-TƠ
Câu gốc: 1:16-17
I/. Ru-tơ quyết định – 1:
    (Người con gái trung thành)
II/. Ru-tơ Phục sự – 2:
     (Công việc thấp hèn: mót lúa)
III/. Ru-tơ yêu cầu – 3:
     (Người nữ tài đức yêu cầu một người bà con hào hiệp)
IV/. Ru-tơ được thưởng – 4:
     (Một người vợ và người mẹ được yêu thương).
Điểm nổi bật của Ru-tơ là Tình Yêu thương mà Ru-tơ dành cho mẹ chồng Na-ô-mi và gia đình bên chồng, nên chúng ta có thể chia Bố cục theo Đề Tài: TÌNH YÊU THƯƠNG
Đề mục: TÌNH YÊU THƯƠNG

  1. Quyết Định của Tình Yêu thương – 1:
      (không lìa bỏ Na-ô-mi lúc sầu khổ)
  1. Hành động của Tình Yêu thương – 2:
      (Đáp ứng nhu cần của Na-ô-mi)
  1. Đặc Tính của Tình Yêu thương – 3:
      (Quan tâm đến người khác – vị tha, sẵn sàng hi sinh)
  1. Phần thưởng của Tình Yêu thương – 4:
 





Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: Ru-Tơ

Những bài viết mới hơn

Những bài viết cũ hơn